Quyền và Nghĩa vụ

12/03/2003 00:00 (GMT+7)

Đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật: NLĐ phải bồi thường

PHÁP LUẬT.- Ngày 4-3, ban giám đốc Công ty Pou Yuen (huyện Bình Chánh - TPHCM) có công văn gởi UBND và các ban ngành chức năng TPHCM đề nghị hỗ trợ giải quyết việc hàng ngàn công nhân (CN) xin nghỉ việc để hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần. Việc này ảnh hưởng đến sản xuất, gây cho công ty rất nhiều khó khăn. Đây là một trong nhiều trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) không đúng quy định của pháp luật hiện hành.

Quyền của người lao động chưa được hiểu đúng

Anh Lê Phong Tâm (Công ty Kreves Vina- Khu Chế xuất Linh Trung, TPHCM) ký HĐLĐ thời hạn 1 năm với chức danh trợ lý giám đốc kinh doanh, làm việc tại bộ phận xuất nhập khẩu. Sáu tháng sau, anh bị điều động sang bộ phận kế hoạch, sau đó lại bị chuyển sang một phân xưởng khác. Anh Tâm cho biết: “Vì công ty không bố trí công việc như HĐLĐ đã giao kết, tôi xin nghỉ việc và báo trước một tuần. Công ty nói tôi vi phạm thời hạn báo trước nên giữ lại hơn một tháng tiền lương của tôi; trong khi theo quy định, tôi chỉ cần báo trước 3 ngày”. Tương tự, anh Hoàng Mạnh Cường, nhân viên Công ty Dịch vụ Bảo vệ Long Hải, xin nghỉ việc để về sinh sống ở quê vợ tại tỉnh Kiên Giang. Nhân viên phụ trách tổ chức của công ty yêu cầu phải có giấy xác nhận cắt chuyển hộ khẩu (hộ khẩu của anh Cường ở miền Bắc) và phải ghi rõ “xin đơn phương chấm dứt HĐLĐ” thì mới được giải quyết cho nghỉ việc. Theo nhân viên này, công ty yêu cầu như vậy vì luật định người lao động (NLĐ) chỉ được đơn phương chấm dứt HĐLĐ nếu “thay đổi hộ khẩu thường trú...” và khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ thì không được trợ cấp thôi việc. Khi giải quyết như vậy, hai công ty nói trên đã không hiểu đầy đủ quy định của pháp luật về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ.

Có thai, nghỉ bệnh cũng bị cho nghỉ việc

Ngày 13-2, giám đốc Công ty Matai (Khu Chế xuất Tân Thuận) cho một nữ CN đang có thai nghỉ việc vì lý do “nghỉ quá 5 ngày trong một tháng”. Đáng nói là năm 2002, khi chưa mang thai, nữ CN này đã nghỉ không phép gần 2 tháng nhưng không hề bị xử lý gì. Bà Mai Thị Bích Vân, Trưởng Ban Nữ công LĐLĐ TPHCM, lưu ý: “Theo quy định của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật Lao động (BLLĐ), lao động nữ đang có thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi được tạm hoãn đơn phương chấm dứt HĐLĐ và kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật lao động”. Như vậy, cách xử lý của Công ty Matai là thiếu nhất quán và sai luật: Khi cần xử lý (nghỉ gần 2 tháng cộng dồn không phép) thì không xử lý và ngược lại. Còn tại Công ty Kollan (Khu Chế xuất Linh Trung, TPHCM), CN Nguyễn Thị Hòa nghỉ bệnh (có chứng nhận của bệnh viện) cũng bị sa thải vì “vắng 7 ngày không phép”. Đáng nói là khi cho chị Hòa nghỉ việc, công ty viện dẫn khoản a, điều 38 BLLĐ, nghĩa là điều luật quy định về việc NLĐ thường xuyên không hoàn thành nhiệm vụ.

Phải có lý do xác đáng, đúng luật

Trường hợp anh Nguyễn Việt Hùng, Công ty Cổ phần Nước giải khát Sài Gòn (Tribeco), bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ là một điển hình về việc vận dụng luật tùy tiện. Ngày 31-7-2002, anh Hùng bị công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ không xác định thời hạn do “nhu cầu công việc và nhu cầu nhân sự”. Tại điều 38 BLLĐ quy định quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của người sử dụng lao động (NSDLĐ), không có quy định nào cho phép đơn phương chấm dứt HĐLĐ với lý do nêu trên. Còn ở Trường Đại học Quốc tế RMIT, 3 nhân viên Trần Thị Minh Tâm, Trần Thanh Tâm, Nguyễn Thị Thủy bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ vì lý do “giải thể căng tin” (thực tế căng tin vẫn hoạt động nhưng theo mô hình quản lý khác) cũng là việc làm trái pháp luật. Trường hợp này, NLĐ phải được đào tạo lại để bố trí vào chỗ làm mới. Chỉ khi nào không thể bố trí được việc làm thì mới giải quyết cho họ nghỉ việc.

Trong thực tế, không chỉ NSDLĐ hành xử sai luật mà không ít trường hợp NLĐ cũng vi phạm luật trong việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Tình trạng hàng loạt NLĐ tại các doanh nghiệp, dù không được NSDLĐ chấp thuận, vẫn nghỉ việc để yêu cầu nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội như vừa qua hoặc tự ý nghỉ việc để đi làm nơi khác có mức lương cao hơn là hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật.

 DIỄN ĐÀN NGƯỜI QUẢN LÝ

Ông Mai Đức Chính, Phó Chủ tịch LĐLĐ TPHCM:

 “Bồi thường tiền lương và thỏa thuận bồi thường thêm”

Điều 41 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của BLLĐ quy định, NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì phải nhận NLĐ trở lại làm công việc theo HĐLĐ đã ký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày NLĐ không được làm việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương. Trường hợp NSDLĐ không muốn nhận NLĐ trở lại làm việc và NLĐ đồng ý thì ngoài các khoản bồi thường và trợ cấp, hai bên thỏa thuận về khoản bồi thường thêm cho NLĐ để chấm dứt HĐLĐ.

Ông Trần Vĩnh Hòa, Trưởng Phòng Nhân sự Công ty Pou Yuen:

“NLĐ không được trợ cấp và phải bồi thường”

Nhiều NLĐ nghĩ rằng, khi họ tự ý nghỉ việc, cùng lắm là bị sa thải theo điểm c khoản 1 điều 85 BLLĐ. Trong trường hợp này công ty vẫn phải trả trợ cấp thôi việc. Nghĩ như vậy là không thấu đáo vì trường hợp này là đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái luật. NLĐ không được trợ cấp và còn phải bồi thường. Song, như vậy không có nghĩa là công ty mong muốn NLĐ chấm dứt HĐLĐ trái luật, vì việc đó gây khó khăn cho công ty và thật đáng tiếc vì sự rạn nứt này nằm ngoài quan hệ lao động.

Luật sư Lê Bình An, Đoàn Luật sư TPHCM:

“Kiện thẳng ra tòa”

Những trường hợp bị đơn phương chấm dứt HĐLĐ nêu trên, NLĐ được quyền kiện thẳng ra tòa, không nhất thiết phải qua hội đồng hòa giải cơ sở. Thời hiệu khởi kiện là 1 năm kể từ ngày phát sinh tranh chấp. NLĐ phải lưu ý điều này để tránh trường hợp hết thời hiệu khởi kiện, NLĐ sẽ bị thiệt thòi quyền lợi. NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại điều 37 vẫn được trợ cấp thôi việc. Nếu NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật (không theo quy định tại điều 37 BLLĐ) thì không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho NSDLĐ nửa tháng tiền lương và phụ cấp lương.

LÊ CHIÊU

Các bài khác

Xem bài theo ngày

[ Đầu trang ]